Trang chủ Tin tức - Sự kiện Văn bản TN&MT Thủ tục hành chính Cải cách hành chính Hỗ trợ kỹ thuật Sơ đồ site
Trang chủ
Giới thiệu
Thông tin chuyên ngành
Công nghệ thông tin
Thư viện bản đồ
Phần mềm & Dữ liệu
Diễn đàn trao đổi
Danh bạ Weblinks
Liên hệ


   Danh mục tin 
   Danh bạ Weblinks 
   Bài viết theo ngày 
Tháng Mười 2017
T2T3T4T5T6T7CN
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30 31          
 <  > 
Tin tức » Địa chất - Khoáng sản
T.7, 21/10/17 
Sự cần thiết và khả năng xây dựng công trình khai thác nước thấm, lọc ven các tuyến Sông, Hồ nhằm bổ sung nhân tạo cho nguồn nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Hải Dương
20.10.2016 07:26

I. Đặt vấn đề
Trong những năm qua việc khai thác nguồn nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Hải Dương ngày một tăng do nhu cầu sử dụng nước phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội cũng như dùng trong sinh hoạt của nhân dân và còn gia tăng mạnh mẽ trong những năm tới; mặt khác nguồn nước mặt lại đang có nguy cơ ô nhiễm cao, không thuận lợi cho việc khai thác và sử dụng thì việc khai thác nguồn nước dưới đất sẽ ngày càng lớn và có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Khi lưu lượng khai thác cao hơn so với khả năng hồi phục của tầng chứa nước sẽ dẫn đến nguy cơ xâm nhập mặn và cạn kiệt nguồn nước. Vì vậy vấn đề đặt ra là cần phải xây dựng các công trình nhằm bổ sung, phục hồi và gia tăng trữ lượng nước dưới đất, đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng nước dưới đất sẽ rất lớn trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới là một nhiệm vụ cấp bách cả trong giai đoạn trước mắt và lâu dài.


Một trong các biện pháp nhằm bổ sung nhân tạo cho nguồn nước dưới đất có triển vọng áp dụng trên địa bàn tỉnh ta là xây dựng các công trình khai thác nư­ớc thấm, lọc ven các tuyến sông, hồ; đây là một dạng bổ sung nhân tạo ngẫu nhiên để phục hồi và gia tăng trữ lượng nước dưới đất. Điều kiện cần thiết cho phép áp dụng phương pháp khai thác này phụ thuộc vào các đặc điểm tự nhiên nh­ư: cấu trúc địa chất, mạng lưới sông, hồ, mối quan hệ thuỷ lực giữa nước mặt và nước dưới đất.v.v.

Trên địa bàn tỉnh Hải Dương, mạng lưới sông hồ rất phát triển, theo số liệu của Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh thì với mật độ sông khoảng 0,5km/km2, hàng năm cung cấp lưu lượng nước khoảng 35tỷ(m3); lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.473mm đến 1.541,5mm, ngoài ra tài nguyên nước mặt còn được bổ xung do dòng thuỷ triều chảy ngược từ biển vào. Vì vậy trên địa bàn tỉnh có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng các công trình khai thác nước thấm, lọc ven bờ với công suất từ vừa đến lớn như ở các dải ven các tuyến sông Thái Bình, sông Kinh Thầy, sông Kinh Môn, sông Lai Vu, sông Gùa, sông Sặt.v.v. giới hạn ở phía ngoài đê có thể xây dựng các công trình khai thác nước dạng này hoặc ven các hồ chứa nước trên địa bàn tỉnh.

Công thức tổng quát để tính trữ lượng khai thác nước dưới đất có dạng như­ sau:

*Trong đó:

Qkt:trữ lượng khai thác, m3/ng;

Qtn:trữ lượng động tự nhiên, m3/ng;

Vdh:trữ lượng tĩnh đàn hồi, m3(áp dụng đối với tầng chứa nước áp lực);

Vtl:trữ lượng tĩnh trọng lực, m3;

α: hệ số xâm phạm vào trữ lượng tĩnh trọng lực cho phép (thường lấy bằng 30% đối với các tầng chứa nước không áp và 0% đối với tầng chứa nước có áp và trên địa bàn tỉnh Hải Dương có thể áp dụng ở tầng chứa nước không áplà tầng chứa nước qh và tầng chứa nước có áp là tầng qp);

t: thời gian khai thác, trong lĩnh vực địa chất thủy văn th­ường được hạn định là 27 năm (tương đương với 10.000 ngày);

Qct: trữ lượng cuốn theo, m3/ng.

Các đại lượng Qtn, Vdh, Vtl được hình thành trong điều kiện tự nhiên, còn trữ lượng cuốn theo (Qct) chỉ hình thành trong quá trình khai thác, khi mà do sự bơm hút, mực nước dưới đất bị hạ thấp sẽ lôi cuốn dòng chảy từ các phía vào tầng chứa nước khai thác (thấm xuyên từ các khối nước mặt xuống, thấm nghiêng từ các tầng chứa nước kề cận vào), trong đó lượng thấm xuyên từ các khối nước mặt trong một số điều kiện chiếm tỉ trọng rất lớn. Đó là tiền đề để xây dựng các công trình khai thác nư­ớc thấm, lọc ven các tuyến sông, hồ.

Nguyên lý làm việc của công trình khai thác nước thấm, lọc ven bờ và cả công trình bố trí trong lòng các nguồn nước mặt (sông, hồ) là khi khai thác mực nước dưới đất bị hạ thấp xuống dưới mực nước sông hồ thì nước mặt sẽ thấm xuyên từ trên xuống qua các lớp đất, đá, bổ sung cho nước dưới đất. Thực chất đó là một dạng bổ sung nhân tạo đơn giản, tiện lợi vì tận dụng được các nguồn nước mặt trong tự nhiên sẵn có mà không cần xây dựng những bồn chứa nhân tạo để cho nước mặt thấm vào lòng đất.

Do tính đơn giản và tiện lợi như­ vậy nên việc xây dựng các công trình khai thác nước thấm, lọc ven bờ được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và áp dụng từ lâu. Trên địa bàn tỉnh Hải Dương mạng lưới sông, hồ phát triển mạnh là tiền đề tốt để xây dựng các công trìnhkhai thác nước thấm, lọc ven bờ.

II. Cơ sở khoa học

Cơ sở khoa học cho việc xây dựng xây dựng các công trình khai thác nư­ớc thấm, lọc ven các tuyến sông, hồ là mối quan hệ giữa nước dưới đất và nước mặt. Trong thực tế thường có 4 kiểu quan hệ phổ biến như sau:

- Kiểu 1: Trong điều kiện tự nhiên phần lớn thời gian trong năm nước sông, hồ được nước dưới đất cung cấp, dòng chảy dưới đất hướng từ bờ ra phía sông hồ. Chỉ trong mùa lũ hoặc các thời kì lũ, nước dưới đất mới tạm thời được nước sông hồ cung cấp . Sự cung cấp này chỉ xảy ra ở đới ven bờ, làm cho dòng chảy dưới đất có phương từ phía sông hồ về đới ven bờ. Chiều rộng của đới này phụ thuộc tỷ lệ thuận với độ lớn của sông, biên độ dao động mực nước sông hồ, tính thấm của đất đá chứa nước. Khi có công trình khai thác ven bờ với mực nước hạ thấp dưới mực nước sông hồ thì nước sông cung cấp cho công trình khai thác.

- Kiểu 2: Nước mặt quanh năm cung cấp cho nước dưới đất, vào mùa mưa lũ lượng cung cấp tăng lên. Khi có công trình khai thác ven bờ thì sự cung cấp càng tăng.

- Kiểu 3: Đặc trưng cho trường hợp sự dao động mực nước sông trong năm không lớn. Do độ nghiêng thuỷ lực của nước dưới đất ở đới ven sông lớn nên không có sự cung cấp của sông. Trong mùa mưa lũ, quá trình thoát của nước dưới đất không những không bị dừng lại mà còn tăng lên do sự gia tăng lượng cung cấp. Các công trình khai thác ven bờ thì đa số trường hợp không hạ thấp được mực nước dưới đất xuống dưới mực nước mặt nên không nhận được sự cung cấp từ phía sông, còn nếu hạ thấp xuống dưới mực nước mặt thì lượng cung cấp cũng không đáng kể.

- Kiểu 4: Là kiểu quan hệ thuỷ lực giữa nước mặt và nước có áp nằm sâu được ngăn cách bởi lớp thấm nước yếu. Trong đa số trường hợp mực áp lực của tầng chứa nước cao hơn mực nước mặt nên nước dưới đất sẽ cung cấp cho nước mặt bằng cách thấm xuyên từ dưới lên qua lớp thấm yếu. Nếu mực áp lực thấp hơn mực nước mặt thì sẽ xảy ra hiện tư­ợng ngược lại. Khi có công trình khai thác ven bờ, mực nước dưới đất hạ thấp xuống dưới mực nước mặt thì nước mặt sẽ cung cấp cho công trình khai thác bằng cách thấm xuyên qua các lớp thấm yếu nên lượng bổ sung không lớn.

Nh­ư vậy việc xây dựng công trình khai thác nước thấm lọc ven bờ có hiệu quả nhất là từ các nguồn nước mặt có quan hệ thuỷ lực với nước dưới đất tương ứng với kiểu 1 và kiểu 2 như đã mô tả ở trên. Đối với kiểu quan hệ 3 phải đắp đập để nâng cao mực nước mặt, còn đối với kiểu quan hệ 4 thì phải khoan thêm các lỗ khoan dẫn nước từ trên xuống.

Đại lượng thấm từ các nguồn nước mặt được xác định bằng công thức thuỷ động lực như­ sau:

Q = KxMxBxI

*Trong đó:

Q: đại lượng thấm từ sông hồ, m3/ng;

K: hệ số thấm của đất đá trong tầng chứa nước, m/ng;

M: chiều dày tầng chứa nước, m;

B: chiều dài đ­ường bờ, m;

I: độ nghiêng thuỷ lực, được xác định bằng công thức:

*Trong đó:

H1: độ cao mực nước mặt;

H2: độ cao mực nước dưới đất tại công trình khai thác;

L: khoảng cách từ nguồn nước mặt đến công trình khai thác.

Trong một điều kiện tự nhiên cụ thể thì các đại lượng K, M, B không thay đổi, để tăng đại lượng thấm (Q) ng­ười ta phải làm tăng độ nghiêng thuỷ lực (I) bằng 2 cách:

Cách 1: Chuyển công trình khai thác càng gần sông hồ càng tốt, thậm chí đặt ngay ở lòng sông hồ (hình a).

Cách 2: Hạ thấp sâu mực nước dưới đất tại công trình khai thác, tuy nhiên cũng chỉ có thể hạ thấp đến giới hạn cho phép (hình b).

Hình: Các biện pháp làm tăng độ nghiêng thuỷ lực của dòng thấm từ sông, hồ

a. Chuyển công trình khai thác về phía gần sông; 

b. Hạ thấp sâu mực nước dưới đất ở công trình khai thác.

III. Một số kiến nghị

-Để có thể phát triển các công trình khai thác nước thấm, lọc ven các tuyến sông, hồ trên địa bàn tỉnh Hải Dương, trong thời gian tới cần thực hiện một số việc sau:

-Triển khai thực hiện một số đề tài, dự án nghiên cứu về cấu trúc địa chất vùng ven bờ của các tuyến sông, hồ nhằm xác định mối quan hệ thuỷ lực giữa nước dưới đất và nước mặt làm căn cứ khoa học cho việc xây dựng hệ thống công trình khai thác nước thấm, lọc ven các tuyến sông, hồ; đặc biệt chú ý nghiên cứu áp dụng tại hai tầng chứa nước trong trầm tích Đệ Tứ có diện phân bố rộng trên địa bàn tỉnh và có khả năng áp dụng cao là tầng chứa nước Holocen (qh) và tầng chứa nước Pleistocen(qp);

-Quy hoạch một số khu đất thuận lợi ven các sông lớn (phía ngoài đê) phục vụ cho việc xây dựng các công trình khai thác nước thấm, lọc ven bờ có quy mô vừa đến lớn nhằm phục vụ cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt;

-Khuyến khích và có cơ chế ưu đãi đối các tổ chức và cá nhân đầu tư xây dựng các công trình khai thác nước thấm, lọc ven bờ nhằm bảo vệ các tầng chứa nước dưới đất tránh nguy cơ bị nhiễm mặn và cạn kiệt.

KS Mai Văn Tâm

(PhòngTài nguyên nước- Sở Tài nguyên và Môi trường)





 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email

Những bản tin khác:



Gửi tin
Lên đầu trang

Tăng cường tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ chức và cá nhân về ô nhiễm môi trường thông qua đường dây nóng
Hội nghị công bố Quyết định thanh tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Kỷ niệm Ngày quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn 16/9/2017
Đánh giá định lượng hiệu quả thực hiện công tác chuyên môn các lĩnh vực tài nguyên và môi trường
Hội nghị tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường
Hội nghị công bố Quyết định về công tác cán bộ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hải Dương
Hội nghị tập huấn công tác lập hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho các cơ sở tôn giáo
Hội nghị công bố Quyết định về công tác cán bộ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hải Dương
Tập huấn công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường năm 2017
Hội nghị sơ kết 06 tháng đầu năm 2017 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017 của ngành Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hải Dương
Tự độngTELEXVNITắt
 
Quy hoach dat dai
Sản phẩm đo đạc bản đồ
Kiem ke dat dai
Dịch vụ xử lý và cung cấp thông tin
tuyen truyen cong tac cgcn
Hỗ trợ  hành chính lĩnh vực tài nguyên và môi t
gia dat hai duong